Hoạt động Phật sự

TT. Huế: Lễ húy nhật cố HT. Thích Hưng Dụng (1915 - 1998)

Thứ Hai, 05/12/2016 10:05 | GTM+7

Sáng ngày 04/12/2016 (06/11 năm Bính Thân) tại Tổ đình Kim Tiên, phường Trường An, thành phố Huế; chư tôn đức môn phái Tổ đình đã trang nghiêm thành kính tổ chức Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Hưng Dụng (1915 - 1998).

Dâng hương tưởng niệm cố Hòa thượng có chư tôn đức Giáo phẩm Chứng minh BTS GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế; chư tôn đức Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế; chư tôn Hòa thượng, chư Thượng Tọa, Đại đức Tăng Ni các Tổ đình, Tự viện, Niệm Phật Đường cùng đông đảo quý Đạo hữu Phật tử các giới tại Thừa Thiên Huế và Quảng Trị.





Hòa thượng Hưng Dụng pháp danh Trừng Hóa tự Lương Bật, thế danh Đào Ngọc Thố, đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế. Ngài sinh ngày 8 tháng 8 năm Ất Mão năm 1915 tại làng Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Tam bảo. Song thân là cụ ông Đào Văn Độ và cụ bà Đỗ Thị Phấn. Gia đình có 6 anh em, ngài là con trưởng.
Vốn sinh trưởng trên dải đất cát mịn bên dòng sông Thạch Hãn, địa thế “Viễn sơn tác án, thế xuất hùng Tăng” của ngôi chùa làng như đã un đúc nên các bậc Cao Tăng như câu ca đã truyền khẩu trong nhân gian “Quảng Trị Trung Kiên, Thừa Thiên Dạ Lê” chính đây là môi trường thuyết phục sớm đưa tuổi thơ của Ngài vào chốn Không môn.
Năm 12 tuổi, nhân đi xem lễ Khánh thành chùa Linh Quang, nhìn uy phong của ngài Tăng Cang Diệu Đế là Hòa thượng thượng Tâm hạ Khoan về tham lễ, thiện duyên này đã đưa Ngài hướng tâm theo gót ngài Tăng Cang.
Sau mấy tháng khẩn khoản xin phép, Ngài đã được song thân cho rời gia đình vào Huế đến đồi Hàm Long chùa Báo Quốc bái yết ngài Tăng Cang xin xuất gia học đạo.
Trải qua những năm tháng hành điệu với bản chất hồn hậu, chất trực và tinh cần nên năm 1928 Ngài đã được Bổn sư trao truyền Sa-di giới. Sáu năm sau Ngài được đặc cách miễn tuổi thọ Cụ túc giới lúc 19 tuổi.
Suốt những năm tháng tinh cần hành đạo gần gũi hầu hạ Bổn sư, rồi trong một đêm nọ, vạn vật như chìm lắng trong cảnh không tịch Sư Tư Cư Cảm, Ngài đã được Bổn sư trao truyền kệ pháp:
Nguyên văn :      澄 神 観 想 定 真 香
                              慧 日 興 用 道 脈 長
                              萬 法 本 来 真 是 法
                              火 灯 継 美 覓 威 王
Phiên âm : Trừng thần quán tưởng định chơn hương,
                    Tuệ nhật Hưng Dụng đạo mạch trường.
                     Vạn pháp bản lai chơn thị pháp,
                     Hỏa đăng kế mỹ mích uy vương.
Nguyên Hồng dịch :
                     Lắng thần quán tưởng định chơn không
                    Tuệ nhật Hưng Dụng mạch đạo đồng.
                    Muôn pháp xưa nay như thị pháp
                    Đèn thiêng tiếp sáng kiếm sư ông.
Tháng 8 năm 1945, tiếng súng Cách mạng bùng lên, đầu năm 1946, cuộc kháng chiến chống Pháp chính thức bùng nổ, Hòa thượng trở về quê nhà lánh nạn.
Cuối năm 1946, Hòa thượng được Giáo hội Tăng già Trung Việt cử giữ chức vụ trú trì chùa Hội Quán Phật học tỉnh Quảng Trị, từng bước xây dựng hạ tầng cơ sở Giáo hội từ những vùng đồi núi cao xa như Ba Lòng, Khe Sanh đến tận các vùng duyên hải Gia Đẳng, Gia Độ... đến đâu Hòa thượng cũng chủ trì đặt đá xây dựng Niệm Phật đường. Nhờ vậy từ chỗ phôi thai vài chục đơn vị Niệm Phật đường trong thị xã và phụ cận đã nhân rộng đến vài trăm đơn vị khắp các quận, huyện tạo cho Phật giáo Quảng Trị có một bộ mặt khá vững vàng cùng với các Giáo hội của các tỉnh bạn góp phần cho sự nghiệp xây dựng Phật giáo Việt Nam.
Hơn 20 năm hoằng pháp độ sanh tại tỉnh nhà, đến năm Giáp Thìn 1964 sư huynh của Ngài là Hồ thượng Thích Hưng Mãn trú trì tổ đình Kim Tiên viên tịch. Ngày 21 tháng 6 năm này chư Tôn đức trong môn phái Báo Quốc đã mở phiên họp cung cử Ngài kế tiếp sư huynh đảm nhận trú trì. Đứng trước tình hình một cảnh hai quê rất khó khăn nhưng Ngài cũng đã tuân thủ tôn ý của Môn phái.
Do nhu cầu thực tế của Tỉnh hội Quảng Trị và tổ đình Kim Tiên nên Ngài vẫn phải tiếp tục Phật sự tại Quảng Trị và cùng vị đệ tử đầu tay là Hồ thượng Chánh Trực, lúc này đang làm giảng sư kiêm Đặc ủy Thanh niên GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên trông coi và tu sửa chùa.
Năm 1965, Ngài làm Đệ thất Tôn chứng cho Đại Giới đàn Vạn Hạnh tổ chức tại Tổ đình Từ  Hiếu. Năm 1970 Ngài làm Đệ lục Tôn chứng Đại Giới đàn Vĩnh Gia Đà Nẵng. Hai giới đàn tại Báo Quốc năm 1977, 1981 Ngài làm Đệ nhị Tôn chứng. Năm 1988 Ngài làm Giáo thọ A-xà-lê cho Giới đàn Báo Quốc.
Năm 1992 trong đại hội Phật giáo tồn quốc Nhiệm kỳ III tại Hà Nội, Ngài được Đại hội cung cử làm thành viên Hội đồng chứng minh.
Năm 1994 Ngài làm Đường đầu cho Đại Giới đàn Báo Quốc.
Đời ngài là một đời sống bình dị rất thân gần quần chúng, đệ tử tại gia ở Quảng Trị và Thừa Thiên khá đông, đệ tử xuất gia phần lớn là chư Ni có nhiều vị Ni trưởng, Ni sư đang Phật sự khắp mọi vùng đất nước. Đệ tử Tăng của Ngài không nhiều song đã có vị có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng ngôi nhà Giáo hội ở Trung Ương cũng như địa phương, đậm nét nhất là cố Hòa thượng Thích Chánh Trực.
Ca ngợi công hạnh tu trì và đức độ của Ngài, cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Vĩnh Thừa, trú trì chùa Châu Lâm đã truy tán:
“Đại thiện tai ! Chánh tín xuất gia, Báo Quốc Long Sơn tham diệu kệ;
Tối thắng hỷ ! Chơn thành nhập đạo, Kim Tiên Lộc Uyển chấn Thuyền Tông.”
Nguyên Hồng dịch:
Hay thay ! Chính tín xuất gia, Báo Quốc Long Sơn từng tham học,
Tốt lắm ! Chân thành nhập đạo, Kim Tiên Lộc uyển đã trụ trì.
Những năm tháng cuối cùng thuận theo với định luật vô thường sanh-trụ-dị-diệt, thân Ngài có nhuốm bệnh, song tâm thức bao giờ cũng thanh thản.
Trong mùa an cư PL.2542 (1998), sau khi Tăng Ni xuất hạ đến đảnh lễ Ngài, đều được Ngài ân cần khuyên nhủ tinh tấn tu hành, chung lo Phật sự, xây dựng Giáo hội.
Sau hơn một tuần bị bệnh nặng, Ngài đã an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 12 giờ ngày mồng 7 tháng 11 năm Mậu Dần giữa tiếng niệm Phật của đông đủ chư Tăng Ni Phật tử, trụ thế 84 năm, trên 70 năm tu tập với 65 hạ lạp.
Một số hình ảnh của buổi lễ: